Văn phòng Sáng chế châu Âu (European Patent Office – EPO) đã cấp Bằng sáng chế số 4432220 cho sáng chế "Annotation of Slice Images in Volumetric Medical Images" của nhóm nghiên cứu Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia TP.HCM. Bằng sáng chế được công bố chính thức trên European Patent Bulletin ngày 08/7/2026, đánh dấu bước tiến quan trọng trong năng lực nghiên cứu, phát triển công nghệ và bảo hộ sở hữu trí tuệ quốc tế của các nhà khoa học Việt Nam trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo ứng dụng y khoa.

Bằng sáng chế được công bố trên European Patent Bulletin. Ảnh HCMUS
Nhóm tác giả gồm TS. Lê Khánh Duy, giảng viên Khoa Công nghệ Thông tin; PGS.TS. Trần Minh Triết, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Tự nhiên; Nguyễn Hồ Thăng Long, cựu sinh viên chương trình Cử nhân Tài năng khóa 2018, nghiên cứu viên Phòng thí nghiệm Công nghệ Phần mềm (hiện là nghiên cứu sinh tại Dublin City University, Ireland); và Phạm Minh Khôi, cựu sinh viên chương trình Cử nhân Tài năng khóa 2018 (hiện là nghiên cứu sinh tại Dublin City University, Ireland).
Trong chẩn đoán hình ảnh, các dữ liệu CT hoặc MRI thường được lưu dưới dạng hàng trăm lát cắt (slice). Để xây dựng bộ dữ liệu huấn luyện cho các hệ thống AI, chuyên gia phải thực hiện việc gán nhãn (annotation) chính xác cơ quan hoặc khối u trên từng lát cắt. Đây là công việc tốn nhiều thời gian, lặp đi lặp lại, đòi hỏi độ chính xác cao và dễ phát sinh sai lệch giữa các lát cắt.
Nhằm giải quyết bài toán này, sáng chế "Annotation of Slice Images in Volumetric Medical Images" đề xuất phương pháp hỗ trợ gán nhãn tự động cho ảnh y tế 3D bằng cách khai thác mối quan hệ không gian giữa các lát cắt liên tiếp. Sau khi người dùng tạo mới hoặc chỉnh sửa annotation trên một lát cắt, hệ thống sẽ sử dụng mô hình học máy để dự đoán và lan truyền annotation sang các lát cắt lân cận, thay vì phải thực hiện lại thao tác từ đầu trên từng ảnh.
Điểm nổi bật của sáng chế là mô hình không chỉ phân tích nội dung của từng ảnh riêng lẻ mà còn kết hợp đặc trưng hình ảnh của đối tượng với vị trí tương đối giữa các lát cắt để dự đoán hình dạng của đối tượng trong toàn bộ thể tích 3D. Nhờ đó, kết quả annotation có tính liên tục và chính xác cao hơn so với phương pháp xử lý độc lập từng lát cắt. Hệ thống cũng cung cấp điểm tin cậy (confidence score) cho mỗi annotation, giúp người dùng nhanh chóng xác định những lát cắt cần kiểm tra hoặc chỉnh sửa. Khi người dùng hiệu chỉnh một annotation, hệ thống sẽ cập nhật và tiếp tục lan truyền kết quả sang các lát cắt khác nhằm duy trì tính nhất quán trên toàn bộ dữ liệu. Giải pháp này giúp giảm đáng kể thời gian và công sức gán nhãn ảnh y tế 3D, đồng thời tạo ra dữ liệu huấn luyện có chất lượng và độ nhất quán cao hơn, phục vụ hiệu quả cho việc phát triển các hệ thống AI trong chẩn đoán và phân tích ảnh y khoa.

Giải pháp hỗ trợ gán nhãn ảnh y tế ba chiều bằng AI vừa được cấp bằng sáng chế của nhóm nghiên cứu Trường ĐH KHTN-ĐHQG-HCM. Ảnh HCMUS
Để được cấp bằng sáng chế tại châu Âu, nhóm nghiên cứu đã trải qua quá trình kéo dài khoảng ba năm với nhiều vòng phản biện cùng các chuyên gia thẩm định của EPO. Theo TS. Lê Khánh Duy, thách thức lớn nhất là chứng minh tính mới và tính sáng tạo về mặt kỹ thuật theo các tiêu chuẩn bảo hộ sáng chế của châu Âu. Ý tưởng của nhóm là xây dựng một giải pháp tương tác mới giữa người dùng và hình ảnh y khoa nhằm giúp quá trình gán nhãn dữ liệu diễn ra nhanh chóng và hiệu quả hơn các giải pháp hiện có. Tuy nhiên, để được bảo hộ, nhóm phải diễn đạt giải pháp tương tác này thành một giải pháp kỹ thuật rõ ràng, đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn của hệ thống sáng chế châu Âu. Kinh nghiệm trước đây của TS. Lê Khánh Duy khi tham gia các nhóm nghiên cứu về tương tác người – máy tại một số tập đoàn công nghệ ở châu Âu cũng góp phần hỗ trợ nhóm giải quyết các yêu cầu kỹ thuật và lập luận bảo hộ.
Một điểm đáng chú ý là sáng chế được các nhà khoa học Việt Nam chủ động nghiên cứu và đăng ký trong bối cảnh thời điểm nộp hồ sơ năm 2023 chưa có nhiều chương trình hỗ trợ đăng ký sáng chế quốc tế. Theo nhóm nghiên cứu, quyết định theo đuổi bảo hộ sáng chế từ sớm xuất phát từ mong muốn bảo vệ một ý tưởng có tiềm năng ứng dụng thực tiễn, đồng thời nhận được sự động viên và hỗ trợ của PGS.TS. Trần Minh Triết trong suốt quá trình triển khai.
Bên cạnh giá trị bảo hộ sở hữu trí tuệ, quá trình đăng ký sáng chế còn giúp nhóm tích lũy nhiều kinh nghiệm về pháp luật sở hữu trí tuệ, quy trình phản biện sáng chế quốc tế cũng như cách diễn đạt kỹ thuật trong hồ sơ bảo hộ. Theo nhóm nghiên cứu, đây là những kinh nghiệm quan trọng đối với các nhà khoa học mong muốn phát triển kết quả nghiên cứu thành tài sản trí tuệ có khả năng được bảo hộ trên phạm vi quốc tế.
TS. Lê Khánh Duy cũng cho rằng nghiên cứu liên ngành đóng vai trò quan trọng đối với các kết quả nghiên cứu định hướng đăng ký sáng chế. Khi một công nghệ lõi được đặt trong bối cảnh ứng dụng cụ thể, nhóm nghiên cứu có thể làm nổi bật hơn giá trị kỹ thuật, khả năng ứng dụng và tính thuyết phục của sáng chế trong quá trình thẩm định.
Sau thành công này, nhóm nghiên cứu tiếp tục theo đuổi các hướng nghiên cứu về thực tế ảo (VR) và thực tế tăng cường (AR), hướng tới các ứng dụng trong tập luyện vật lý trị liệu và các môi trường giả lập khác. Nhóm kỳ vọng sẽ tiếp tục phát triển, hoàn thiện các kết quả nghiên cứu và tiến tới đăng ký bảo hộ thêm nhiều sáng chế trong thời gian tới.
Việc sáng chế "Annotation of Slice Images in Volumetric Medical Images" được EPO cấp bằng sáng chế không chỉ là thành quả có ý nghĩa đối với hoạt động nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và sở hữu trí tuệ của Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG-HCM mà còn cho thấy các kết quả nghiên cứu trong trường đại học Việt Nam hoàn toàn có khả năng phát triển thành các giải pháp công nghệ được bảo hộ theo tiêu chuẩn quốc tế, góp phần đưa tri thức và năng lực nghiên cứu của Việt Nam đến gần hơn với cộng đồng khoa học – công nghệ toàn cầu.