Sinh viên thiếu nhiều nền tảng về sở hữu trí tuệ

Công tác tuyên truyền và giáo dục sở hữu trí tuệ trong các trường TC, CĐ vẫn còn thiếu đồng bộ, chưa có khung chương trình thống nhất, học liệu chuẩn và đội ngũ chuyên trách. Điều đó đặt ra yêu cầu phải có những giải pháp căn cơ, toàn diện và khả thi hơn.

Đây là chia sẻ của thạc sĩ Lê Thị Phương Lan, Trưởng phòng Khoa giáo - Ban Tuyên giáo, Ban Dân vận Thành ủy, tại Hội thảo “Tăng cường tuyên truyền sở hữu trí tuệ (SHTT) trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp (GDNN) tại TP.HCM: Giải pháp thực tiễn gắn với chuyển đổi số” được tổ chức ngày 26.9.

Chỉ có 4% sinh viên hiểu rõ và biết vận dụng sở hữu trí tuệ

Phát biểu tại hội thảo, thạc sĩ Lê Thị Phương Lan cho rằng đối với GDNN, trang bị kiến thức và kỹ năng về SHTT cho học sinh, sinh viên chính là chìa khóa để hình thành nguồn nhân lực vừa giỏi nghề, vừa am hiểu pháp luật, có khả năng khởi nghiệp và hội nhập quốc tế.

“Công tác tuyên truyền và giáo dục SHTT trong các trường TC, CĐ vẫn còn thiếu đồng bộ, chưa có khung chương trình thống nhất, học liệu chuẩn và đội ngũ chuyên trách. Điều đó đặt ra yêu cầu phải có những giải pháp căn cơ, toàn diện và khả thi hơn”, thạc sĩ Lan nêu thực trạng.

Sinh viên thiếu nhiều nền tảng về sở hữu trí tuệ

Thạc sĩ Lê Thị Phương Lan cho rằng công tác tuyên truyền và giáo dục SHTT trong các trường TC, CĐ vẫn còn thiếu đồng bộ. Ảnh: BTC

Trình bày tham luận tại hội thảo, PGS-TS Lê Chi Lan, Trường ĐH Sài Gòn, nêu lên thực trạng: Nhận thức về SHTT trong giáo dục còn hạn chế, dẫn đến vi phạm bản quyền và thiếu bảo vệ quyền lợi người sáng tạo, từ đó gây thiệt hại kinh tế cho nhà sáng tạo và giảm động lực nghiên cứu.

Tại hội thảo, thạc sĩ Đặng Thị Hiền, Trường CĐ Văn hóa nghệ thuật TP.HCM, cho biết qua kết quả khảo sát thực tế tại các trường ĐH-CĐ, chỉ có 4% sinh viên hiểu rõ và biết vận dụng sở hữu trí tuệ; 37,3% sinh viên có nghe nhưng không hiểu rõ về sở hữu trí tuệ. 

Bên cạnh đó, có đến hơn 82% sinh viên chưa từng tham dự các hoạt động sở hữu trí tuệ như các buổi học, hội thảo, tọa đàm hay các cuộc thi về sở hữu trí tuệ. Các hình thức học về SHTT được thạc sĩ Hiền chỉ ra gồm: video ngắn, học trực tuyến, lớp học chính quy, phim, game show…

Thông qua kết quả khảo sát và phân tích, thạc sĩ Đặng Thị Hiền cho rằng nhận thức và hành vi về SHTT trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp tại TP.HCM còn thiếu nền tảng, chưa được giáo dục bài bản.

Trong khi đó, tham luận “Thực trạng về giáo dục SHTT cho sinh viên các cơ sở giáo dục tại Hà Nội trong bối cảnh chuyển đổi số” của tiến sĩ Phạm Hoàng Tú Linh và thạc sĩ Nguyễn Huy Hoàng (Học viện Quản lý giáo dục) chỉ ra rằng 29,2% giảng viên và 36% sinh viên có hiểu biết chưa đầy đủ về SHTT.

Cán bộ, giảng viên và sinh viên đều đánh giá vai trò của SHTT trong tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển công nghiệp và văn hóa của đất nước cao nhất (lần lượt là 4,48 điểm và 4,24 điểm).

Phần lớn giảng viên và sinh viên tìm hiểu SHTT thông qua mạng internet. Trong khi đó, nguồn tiếp cận thông tin từ các lớp bồi dưỡng, tập huấn, báo chí, sách, tài liệu… lại ít được giảng viên và sinh viên lựa chọn.

Tham luận này đánh giá sinh viên tại các cơ sở giáo dục tại Hà Nội có nhận thức và sự quan tâm chưa đồng đều về SHTT, chương trình đào tạo và nội dung còn hạn chế, thiếu giảng viên chuyên sâu về SHTT, ứng dụng công nghệ số trong SHTT còn yếu, thiếu liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong SHTT.

So sánh kinh nghiệm quốc tế

Tham luận của PGS-TS Phạm Văn Thuần (Học viện Quản lý giáo dục) và tiến sĩ Nguyễn Đặng An Long (Trường CĐ Kinh tế TP.HCM) cho rằng tại Việt Nam, hoạt động tuyên truyền và giáo dục SHTT trong các trường CĐ và TC vẫn còn phân tán, thiếu tính hệ thống và chưa được thể chế hóa đầy đủ trong khung chính sách GDNN.

Tham luận đề ra giải pháp xây dựng các mô hình: 

  • Lồng ghép SHTT vào chương trình đào tạo (Tích hợp nội dung về quyền tác giả, sáng chế và nhãn hiệu trong các môn học chuyên ngành như CNTT, mỹ thuật ứng dụng và cơ khí); 

  • Thành lập trung tâm IP Hub (trung tâm hỗ trợ tư vấn, tra cứu và hướng dẫn đăng ký bảo hộ quyền SHTT); 

  • Hội thi sáng tạo nghề có yếu tố SHTT (Các trường tổ chức cuộc thi, triển lãm sản phẩm sáng tạo, lồng ghép hướng dẫn đăng ký kiểu dáng, nhãn hiệu); 

  • Lồng ghép trong khởi nghiệp nghề (SHTT được giảng dạy như một phần trong đào tạo khởi nghiệp nghề, qua dự án mini, cố vấn, hội thảo);

  • Đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn giảng viên và cán bộ chuyên trách

Tham luận cũng đã có những so sánh cụ thể các mô hình tại Việt Nam và một số quốc gia.

Trong đó, về lồng ghép chương trình đào tạo, Việt Nam tích hợp linh hoạt trong các mô đun 1 kỹ năng hoặc hoạt động ngoại khóa; trong khi đó, Hàn Quốc xem SHTT là học phần bắt buộc áp dụng toàn quốc; Nhật Bản thì tích hợp SHTT vào chương trình STEM.

Tham luận cũng chỉ ra tại Việt Nam một số trường có trung tâm tư vấn IP, chưa có giáo trình SHTT chính quy, thiếu giảng viên chuyên trách, thiếu cơ chế khen thưởng và học bổng SHTT; Chủ yếu dừng ở ý tưởng, ít thương mại hóa.

Trong khi đó, Hàn Quốc có IP Campus toàn quốc có hỗ trợ pháp lý, bộ sách giáo khoa SHTT cấp quốc gia; có cán bộ chuyên trách SHTT tại mỗi trường CĐ và TC; có học bổng, thưởng sáng chế được bảo hộ, kết nối doanh nghiệp để thương mại hóa sản phẩm.

Tham luận cũng đề xuất các mô hình tuyên truyền SHTT như: Xây dựng khung chương trình và phương pháp tuyên truyền SHTT và bộ tài liệu tuyên truyền cho cho giảng viên và học sinh-sinh viên; Các công cụ trực quan sinh động như video clip, bài hát, phần mềm... đưa SHTT đến gần với học sinh-sinh viên từ đó, hình thành văn hóa SHTT trong cộng đồng; Thành lập mạng lưới IP Hub trong từng đơn vị; Tích hợp SHTT vào kiểm định chất lượng cơ sở GDNN; Học bổng, khen thưởng khuyến khích đăng ký quyền SHTT.

Theo Yến Thi/ Thanh niên

Tin cùng chuyên mục

Những sinh viên chủ động tích lũy kinh nghiệm từ hoạt động ngoại khóa, việc làm thêm, thực tập… khi còn trên ghế nhà trường sẽ tạo ấn tượng cho nhà tuyển dụng, cơ hội dễ tìm việc làm hơn so với những sinh viên chỉ học thật giỏi.
Trong thời buổi nhiều biến động, đây là những cách người trẻ trang bị để vừa làm giàu thêm trải nghiệm đồng thời cũng phòng ngừa rủi ro trong công việc nếu chẳng may... thất nghiệp.
Sự phổ biến của các mô hình ChatGPT hay Gemini đang mang lại nhiều tiện ích cho người dùng, đặc biệt trong việc xử lý khối lượng lớn văn bản. Tuy nhiên, thói quen đưa các tài liệu chuyên môn, thông tin riêng tư, chưa công bố vào những nền tảng này đang đặt ra thách thức lớn về an toàn thông tin. Theo chuyên gia An ninh mạng Ngô Minh Hiếu, khung chat AI là nơi tồi tệ nhất để chia sẻ thông tin cá nhân, những tài liệu riêng tư, quan trọng, bởi trong thế giới của Trí tuệ nhân tạo, hoàn toàn không có nút xóa.
Trí tuệ nhân tạo (AI) đang vẽ nên một viễn cảnh nhiều cơ hội nhưng cũng đầy thách thức: AI có thể gánh vác tới 90% khối lượng công việc, nhưng cũng sẵn sàng biến người dùng thành những "cỗ máy bằng thịt" phục vụ cho công nghệ nếu thiếu đi 10% năng lực tư duy cốt lõi. Trao đổi với phóng viên Chuyên trang Sinh Viên Việt Nam- Báo Tiền Phong, chuyên gia Nguyễn Phong Anh đã có những phân tích thẳng thắn về ranh giới mong manh giữa việc làm chủ công nghệ và bị công nghệ "làm chủ" tư duy.
Trí tuệ nhân tạo (AI) trở thành trợ thủ đắc lực của sinh viên. Cùng với lợi ích, việc lạm dụng AI để làm hộ bài tập, bài thi đặt ra thách thức lớn cho giảng viên trong đánh giá năng lực sinh viên. Trước thực tế đó, nhiều giảng viên đã thay đổi cách ra đề và đánh giá, nhằm buộc người học phải tư duy thật, làm thật, thay vì chỉ sao chép từ AI.
Dù ở khối ngành nào, trí tuệ nhân tạo (AI) cũng đã trở thành trợ thủ đắc lực cho sinh viên trong học tập. Tuy nhiên, không phải ai cũng dùng AI đúng cách, thay vì xem đây là công cụ hỗ trợ thì nhiều sinh viên lại lạm dụng.
Trắc nghiệm ngành nghề
Trắc nghiệm ngành nghề